Khu Di tích lịch sử Lam Kinh đón nhận bằng Di tích Quốc gia đặc biệt

Khu di tích lịch sử Lam Kinh nằm trên địa bàn xã Xuân Lam, Thọ Xuân, Thanh Hóa, cách thành phố Thanh Hóa 50 km về phía Tây Bắc. Đây là một di tích lịch sử quốc gia từ năm 1962. Năm 2013, khu di tích này được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt. Sau 10 năm lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 – 1428) đánh đuổi giặc Minh và lên ngôi, vua Lê Thái Tổ lấy niên hiệu là Thuận Thiên thứ nhất. Đồng thời, cho xây dựng ở quê hương đất tổ Lam Sơn một kinh thành gọi là Lam Kinh hay còn gọi là Tây Kinh.

Lam Kinh đón nhận bằng Di tích quốc gia Đặc biệt

Ngày 26/9/2013 buổi lễ kỉ niệm 595 năm khở nghĩa Lam Sơn và 580 năm ngày mất anh hùng giải phóng dân tộc Lê Lợi có sự tham dự của các đại biểu lãnh đạo Trung ương, lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa, đại diện cho các tỉnh thành phố, các Sở, Ban ngành TW và địa phương và đông đảo du khách thập phương. Buổi lễ được tổ chức theo nghi thức trang trọng, thành kính và tôn nghiêm.

Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Nguyễn Thiện Nhân – Uỷ viên bộ chính trị, phó thủ tướng chính phủ, chủ tịch Uỷ ban TW mặt trận tổ quốc Việt Nam khẳng định: “Di tích lịch sử Lam Kinh là tài sản vô giá của tỉnh Thanh Hóa cũng như của toàn dân tộc Việt Nam. Khu di tích Lam Kinh được xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt là niềm vinh dự và tự hào của tỉnh Thanh Hóa, bên cạnh đó cũng đặt ra trọng trách lớn lao trong việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị lịch sử quốc gia”.

Khu Di tích lịch sử Lam Kinh đón nhận bằng Di tích Quốc gia đặc biệt

Cùng với niềm tự hào và những đóng góp to lớn của Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn, Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân trong tỉnh Thanh Hóa sẽ tiếp tục nâng cao tinh thần đoàn kết, ý thức trách nhiệm trong việc phát huy những truyền thống tốt đẹp của quê hương, gắn kết chặt chẽ giữa việc bảo tồn và phát triển kinh tế du lịch, làm cầu nối đưa hình ảnh Thanh Hóa đến với đồng bào trong nước và bạn bè quốc tế. Trong thời gian tới Thanh Hóa cần tiếp tục thực hiện tốt các dự án phục hồi, tôn tạo và bảo tồn phát huy giá trị của Khu Di tích lịch sử Lam kinh đã được thủ tướng chính phủ phê duyệt.

Phần hội là chương trình nghệ thuật với chủ đề “ Hào khí Lam Sơn – tỏa sáng trường tồn” đã tái hiện lịch sử 10 cuộc khởi nghĩa Lam Sơn hào hùng, cảnh vua Lê Lợi đăng quang, dấu ấn lịch sử của nhà Lê, các giá trị nổi bật về kiến trúc nghệ thuật của khu di tích Lam Kinh và sự phát triển của tỉnh Thanh Hóa ngày nay. Tham dự lễ hội có các trò diễn múa hát dân gian đặc sắc tiêu biểu của các địa phương trong tỉnh như: Múa Xuân Phả, múa rồng Xuân Lập (Thọ Xuân), trống hội Phú Khê (Hoằng Hóa), múa hát Đông Anh ( Đông Sơn), Cồng chiêng ( Ngọc Lặc) và các điệu hò Sông Mã…

Lễ hội Lam Kinh năm 2013 được tổ chức từ ngày 25-27/9 (tức ngày 21,22/8) tại TP. Thanh Hóa, huyện Thọ Xuân và huyện Ngọc Lặc.

Vị trí địa lí của khu di tích lịch sử Lam Kinh

Thành điện Lam Kinh phía Bắc dựa vào núi Dầu, phía Nam nhìn ra sông Chu, xa là núi Chúa, bên trái là rừng Phú Lâm, bên phải là núi Hương. Mặt trước ngoài hoàng thành khoảng 100m còn lại dấu vết của cổng vào rộng trên 6m, hai bên có xây 2 bức tường thành hình cánh cung kéo dài đến sát bờ sông Ngọc, móng tường thành còn lại dày 1,08m, qua cổng thành khoảng 10m đến một con sông đào có tên là sông Ngọc. Sông này bắt nguồn từ Tây Hồ, chạy vòng qua trước thành và điện Lam Kinh. Theo sách Hoàng việt dư địa chíxưa kia, nước sông trong veo, đáy sông có nhiều sỏi tròn đẹp, trông rất đẹp. Trên sông có bắc một cây cầu tên là Tiên Loan Kiều hình cánh cung, còn có tên gọi là Cầu Bạch, trên cầu có nhà, thành dáng “Thượng gia hạ kiều”. Qua cầu khoảng 50m thì đến một giếng cổ. Trước kia dưới giếng còn thả sen để giữ cho nước mát trong những ngày hè nóng nực. Bờ giếng phía Bắc có lát bậc đá lên xuống, gọi là bến nước.

Trước Ngọ môn có hai con nghê bằng đá đứng canh. Nền Ngọ môn rộng 11m dài 14,1m, có 3 cửa ra vào. Cửa giữa rộng 3,6m, cửa hai bên rộng 2,74m và được bố trí ở hàng cột chính giữa. Đặc điểm của bốn cột giữa là rất lớn, đường kính chân tảng đo được 78 cm. Ngọ môn 3 gian, bước gian giữa rộng 4,60m, bước gian bên rộng 3,50m.

Căn cứ vào chiều rộng của nền Ngọ môn và xét về tỷ lệ quy mô các công trình kiến trúc toàn khu cung điện, các nhà nghiên cứu về kiến trúc cổ đã đoán định, Ngọ môn thành điện Lam Kinh là một công trình kiến trúc khá quy mô.

Qua Ngọ môn vào đến sân rồng (còn có tên gọi là sân chầu). Sân trải rộng khắp bề ngang chính điện và đến sát thềm hai nhà tả vu và hữu vu với tổng diện tích 3.539,2m² (rộng 58,5m dài 60,5m).

Qua sân rồng đến khu chính điện, gồm 3 toà điện lớn xây trên nền đất rộng, cao 1,80m so với sân rồng, bề ngang 38m, chiều sâu 46m. Mặt bằng của điện bố trí hình chữ công I.

Sử ghi năm Bính Tý (1456) vua Lê Nhân Tông đích thân đem các quan về bái yết sơn lăng ở Lam Kinh, nhà vua đã lệnh cho các đại thần đặt tên các điện. Theo đó, điện phía trước gọi là điện Quang Đức, điện dọc ở giữa gọi là điện Sùng Hiếu, điện phía sau gọi là điện Diên Khánh (theo Đại Việt sử ký toàn thư). Hai điện Quang Đức và Diên Khánh đều 9 gian, gian giữa rộng nhất, hai gian hai đầu hồi chỉ rộng 2m tạo thành hành lang bao quanh cả ba điện.

Từ sân rồng lên chính điện là thềm rộng lớn, rộng 5m có 9 bậc với 3 lối lên, có chiều rộng không bằng nhau, lối giữa rộng 1,80m, lối bên rộng 1,21m. Hai bên lối giữa trang trí hình rồng tạc tròn, thân uốn khúc, trên thân khắc hoa văn hình ngọn lửa trên sóng xoắn, trên đầu thể hiện một bờm, mép rồng trang trí hình râu xoắn, dưới cằm có râu dài xoắn hình vặn thừng, tay rồng giống bàn tay người nắm gọn râu phần dưới đặt trên một viên ngọc. Gọi là long hí châu (rồng giỡn ngọc trai).

Vĩnh Lăng – lăng vua Lê Thái Tổ

Lăng Lê Thái Tổ được xây dựng trên một dải đất bằng phẳng cách điện Lam Kinh 50 m. Vĩnh Lăng được chọn đặt một thế rất đẹp, phía trước có minh đường rộng rãi và tiền án là núi Chúa, phía sau có gối tựa là núi Dầu, hai bên tả, hữu có hai dãy núi tạo thế “hổ phục rồng chầu”. Đối diện lại có sông làm “bạch hổ”.

Bố cục và phong cách mai táng của Vĩnh lăng đơn giản nhưng tôn nghiêm, tự nhiên và trang nhã. Lăng đắp đất hình lập phương, xung quanh xây chèn bằng đá đục ở bên ngoài, có kích thước 4,4 x 1 m. Trước Lăng có hai hàng tượng quan hầu và tượng các con giống tạc bằng đá dựng ở đây để trấn trạch (bốn đôi con giống đối nhau theo thứ tự hai nghê, hai ngựa, hai tê giác, hai hổ). Giữa hai hàng tượng chầu vào là một lối đi rộng 2m25 gọi là đường “thần đạo”. Nhìn toàn cảnh lăng Lê Thái Tổ (Vĩnh lăng) thật giản dị, gần gũi song rất tôn nghiêm và trang trọng

Bia Vĩnh Lăng

Bia Vĩnh Lăng được dựng cách lăng 300m đường chim bay ở Tây Nam thành điện Lam Kinh. Bia làm bằng đá trầm tích biển nguyên khối cao 2,97m; rộng1,94m; dày 0,27m; đặt trên lưng một con rùa lớn cũng được tạc từ đá trầm tích biển nguyên khối có chiều dài 3,46m; rộng 1,9m; cao 0,94m kể cả đế.

bia vĩnh lăng

Nhà bia được dựng lại năm 1961 nền nhà có hình gần vuông mỗi cạnh là 8,80m và nhà có 4 mái cong lợp ngói mũi hài, dưới được đỡ bằng 16 cột, mỗi góc 4 cột theo kiểu nhà Lê. Nghệ thuật trang trí tinh xảo, phong cách trang trí trên bia phù hợp với nội dung văn bia do Nguyễn Trãi soạn. Văn bia ngắn gọn, cô đọng phản ánh đầy đủ thân thế, sự nghiệp công lao của vua Lê Thái Tổ.

Các lăng mộ khác

Lăng các Vua và Hoàng Hậu khác trong khu sơn lăng của Triều Lê Sơ ở Lam Kinh gồm:

  • Hựu lăng: Lăng vua Lê Thái Tông
  • Lăng Khôn Nguyên: Lăng Hoàng Thái Hậu Ngô Thị Ngọc Giao (mẹ Vua Lê Thánh Tông). Lăng này có điểm đặc biệt là tượng quan hầu là nữ quan.
  • Chiêu Lăng: Lăng vua Lê Thánh Tông.
  • Dụ Lăng: Lăng vua Lê Hiến Tông.
  • Kính Lăng: Lăng vua Lê Túc Tông.

Đền thờ Lê Lợi

Khu đền thờ vua Lê Lợi thuộc địa bàn xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, cách khu di tích Lam Kinh 150m về phía Nam. Đền do một số nhà hảo tâm đứng ra quyên góp vào những năm đầu của thế kỷ 20 để làm nơi thờ vua Lê Thái Tổ (Trong khi khu di tích Lam Kinh bị tàn phá chưa được trùng tu). Hiện khu đền thờ này đã được sát nhập vào quản lý cùng với khu di tích Lam Kinh

Update lần cuối

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *