Đầu tư cho tam nông còn nhiều hạn chế

    05/06/2012 - 06:11:00

    Tỷ lệ hộ nghèo giảm 12%

    Theo báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn giai đoạn 2006-2011, tổng vốn đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn từ nguồn ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ là 432.788 tỷ đồng, bằng 49,67% tổng vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ.

    Bên cạnh đó, hàng năm Nhà nước còn bố trí nguồn vốn dự phòng ngân sách Trung ương mỗi năm 7.000 - 8.000 tỷ đồng chủ yếu dành hỗ trợ các địa phương khắc phục hậu quả thiên tai, lụt bão, dịch bệnh…; chi hơn 2.000 tỷ đồng hỗ trợ nông dân thông qua chính sách miễn, giảm thuế nông nghiệp và khoảng 8.000 tỷ đồng vốn thu từ xổ số kiến thiết hàng năm được ưu tiên tập trung cho lĩnh vực cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội phục vụ cho phát triển nông nghiệp, nông thôn.

    Thủy lợi là lĩnh vực được quan tâm hàng đầu; hạ tầng giao thông nông thôn đã thu hút được nhiều nguồn lực đầu tư và đạt được kết quả rất quan trọng. Đến năm 2011, cả nước có 8.940 xã có đường ô tô đến trung tâm xã, chiếm 98,6% tổng số xã; lưới điện trung và hạ áp tại các địa bàn nông thôn đã được mở rộng mạng lưới cung cấp điện tới các xã, huyện thuộc địa bàn khó khăn và đặc biệt khó khăn, theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến năm 2011 đã có 99,8% số xã và 95,5% số thôn có điện.

    Đầu tư phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp được chú trọng, từng bước phát triển giống mới có năng suất, chất lượng cao đã tác động tích cực đến sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân sống trên địa bàn nông thôn. Đến nay, có 4.208 cơ sở sản xuất giống đáp ứng nhu cầu, trên 90% diện tích lúa, 80% diện tích ngô, 60% diện tích mía, bông, cây ăn quả,… được dùng giống mới.

    Kết quả thực hiện các chương trình giảm nghèo trong giai đoạn 2006-2011 đã góp phần ổn định xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững, nhất là trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, an sinh xã hội vẫn được đảm bảo, năm 2011 tỷ lệ hộ nghèo nông thôn còn 9,45%, giảm 12% so với 2006.

    Tuy nhiên, báo cáo giám sát cũng đã nêu rõ một số hạn chế, yếu kém chủ yếu. Trong đó, nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn thiếu so với nhu cầu. Hầu hết các bộ, ngành, địa phương đều thiếu vốn cho nhu cầu đầu tư phát triển của ngành, địa phương.

    Mặc dù công tác lập và tổ chức thực hiện quy hoạch đã được các cấp, ngành quan tâm hơn trước, nhưng nhìn chung chất lượng quy hoạch còn hạn chế, chưa sát thực tế, thiếu tính khoa học, chưa gắn với nguồn lực thực hiện, còn có sự chồng chéo, không phù hợp giữa quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, quy hoạch ngành và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, gây lãng phí nguồn lực

    Tình trạng đầu tư dàn trải, kéo dài, hiệu quả sử dụng vốn chưa cao; một số nơi việc chấp hành kỷ cương, kỷ luật và pháp luật trong đầu tư chưa nghiêm túc, còn để xảy ra sai phạm trong quản lý đầu tư; chưa thực hiện tốt cơ chế dân chủ và phát huy sức mạnh tổng hợp của người dân trong tổ chức thực hiện đầu tư.

    Công tác giảm nghèo chưa thực sự bền vững, nguy cơ phát sinh nghèo và tái nghèo vẫn ở mức cao; còn tiềm ẩn nhiều yếu tố gây mất ổn định an ninh trật tự nông thôn. Cơ sở hạ tầng mặc dù đã được tăng cường đầu tư nhưng nhiều khu vực vẫn còn rất khó khăn, chất lượng hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.

    Phải đầu tư đúng trọng tâm

    Đại biểu Nguyễn Lâm Thành (Lạng Sơn) cho rằng, với một “rừng” văn bản như thế thì sự chồng chéo, trùng lắp rất dễ xảy ra. Ví dụ, về đầu tư xây dựng nhà ở cho đồng bào vùng ngập lũ Đồng bằng sông Cửu Long đã có tới 5 quyết định của Thủ tướng. Trong khi đó, những chính sách có tính đột phá về khoa học công nghệ nông nghiệp lại rất thiếu, khiến cho nông nghiệp nước nhà không có tính cạnh tranh cao. Hoạt động khuyến công chưa hiệu quả, trong khi công nghiệp có liên hệ hữu cơ với nông nghiệp hiện đại. Khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng tăng lên một cách rõ rệt. Khu vực Tây Bắc, Đông Bắc tỷ lệ nghèo so với mặt bằng chung cả nước gấp 2 và 3 lần, so với khu vực Đông Nam Bộ gấp 20 lần và 13 lần. Đây là một vấn đề xã hội rất lớn và tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Về chính sách cho vùng đồng bào dân tộc đề nghị Chính phủ rà soát, cơ cấu lại thành những nhóm chính sách chủ yếu, theo các lĩnh vực phát triển, xác định yếu tố phù hợp cho vùng miền, tránh cào bằng, bình quân và đề nghị Chính phủ sớm nghiên cứu để phê duyệt chương trình phát triển kinh tế - xã hội cho các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn.

    Theo đại biểu Nguyễn Thanh Thuỵ (Bình Định), để có được một nền nông nghiệp hàng hóa phải có hệ thống chính sách đồng bộ về đất đai, tín dụng, thuế, năng lượng. Do đó, một ưu tiên hàng đầu trong thời gian tới là bổ khuyết để hoàn chỉnh khung pháp luật này.

    “Đầu tư về quy hoạch tổ chức sản xuất tập trung còn hạn chế. Đầu tư về khâu chế biến, tiêu thụ sản phẩm cho người dân, xây dựng thương hiệu vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Ví dụ chúng ta đã xuất khẩu gạo với mức độ nhất, nhì thế giới, chúng ta vẫn khoe là một đất nước xuất khẩu gạo, chúng tôi rất trăn trở khi xuất khẩu những hàng thô như thế này người nông dân được hưởng những gì trên địa bàn của xuất khẩu này, từ xuất khẩu thô như thế người dân sẽ rất thiệt thòi. Chính phủ nên có chính sách đủ mạnh để quy hoạch chỉ ra những vùng sản xuất tập trung để đầu tư cho quy hoạch từng vùng, vùng nào ra vùng đó, có những sản phẩm tập trung thì chúng ta mới có thể đáp ứng được yêu cầu”, đại biểu Trịnh Thế Khiết (Hà Nội) nêu ý kiến.

    Vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn rất thấp và có xu hướng giảm dần, từ tỉ lệ 8% trong tổng cơ cấu FDI của cả nước năm 2001 giảm xuống còn 1% năm 2010. Tính chung cả thời kỳ 1990-2010, ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn mới thu hút được 738 dự án (không kể các dự án chế biến thực phẩm) với tổng vốn đầu tư đăng ký là 4,3 tỉ đôla Mỹ, chiếm 2,3% trong tổng số vốn đầu tư đăng ký của cả nước.

    Đại biểu Đinh Thị Phương Khanh (tỉnh Long An) cho rằng công tác giảm nghèo chưa bền vững, và tái nghèo còn ở mức cao. Đại biểu phân tích nguyên nhân công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch chưa sát thực tế, thiếu tính khoa học, chưa sát với nguồn lực hiện có dẫn tới việc đầu tư chưa đúng trọng tâm, trọng điểm dẫn đến đầu tư dàn trải, kém hiệu quả. Đại biểu đề nghị Chính phủ và địa phương cần lập quy hoạch cụ thể và giám sát chặt chẽ việc thực hiện quy hoạch đó.

    Ngoài ra, đại biểu Phương Khanh cũng đề nghị Chính phủ cần chỉ đạo các ngành, địa phương tập trung đúng mức về vốn, công nghệ kỹ thuật cao để phát triển các loại giống có năng suất chất lượng cao, phù hợp với thổ nhưỡng khí hậu của từng vùng, đẩy mạnh công tác chuyển giao công nghệ khoa học kỹ thuật, sản xuất bởi đây là khâu trọng yếu quyết định chất lượng nông sản phẩm hàng hóa.

    Đại biểu Nguyễn Thúy Anh (tỉnh Phú Thọ) đề cập đến vấn đề đầu tư công cho đào tạo nghề ở nông thôn. Hiện nay, vấn đề lao động việc làm ở khu vực nông thôn đang đặt ra nhiều khó khăn, thách thức như: thiếu việc làm, việc làm thiếu ổn định, năng suất lao động, chất lượng lao động thấp, ít việc làm có thu nhập cao, chưa giải quyết được việc làm tại chỗ cho người lao động khi đất lao động bị thu hồi; quá trình đô thị hóa làm tăng nguy cơ mất việc làm của người nông dân… Do đó, đại biểu đề nghị cần tăng cường chất lượng nguồn nhân lực nông thôn như tăng năng suất lao động; cần có chính sách lao động riêng, những ưu tiên dành cho lao động ở vùng đô thị hóa chuyển đổi mô hình sử dụng đất; tăng cường hiệu quả chương trình sử dụng vốn tín dụng ưu đãi để phát triển các ngành nghề truyền thống…

    Cũng về vấn đề việc làm cho lao động nông thôn, đại biểu Nguyễn Ngọc Phương (Quảng Bình) nhấn mạnh, cần rà soát lại việc đào tạo và chất lượng đào tạo nghề hiện nay ở nông thôn. “Theo báo cáo của 54/63 tỉnh, thành, có 70% người được đào tạo tìm được việc làm, tôi cho rằng con số này hơi lạc quan”, đại biểu Phương nói.

    Đại biểu này cũng cho rằng, chính sách giảm nghèo ngoài những hiệu quả mang lại, nó cũng tạo nên tư tưởng ỷ lại, thậm chí hình thành một suy nghĩ của không ít hộ dân là... thích làm hộ nghèo.

    Sửa đổi tiêu chí XDNTM cho phù hợp

    “Trong quá trình XDNTM hiện nay, nông dân là chủ thể chính của chương trình này. Để nâng cao đời sống thì cần có sự hỗ trợ từ nhiều phía trong đó có sự liên kết các nhà. Trong bốn nhà thì nhà nước giữ vai trò là nhạc trưởng tạo cơ chế đảm bảo liên kết giữa nhà khoa học, doanh nghiệp và nông dân sẽ phát huy tốt nhất”, đại biểu Nguyễn Thị Thanh (Ninh Bình) đưa ra ý kiến về vấn đề XDNTM hiện nay.

    “Xây dựng tiêu chí chương trình XDNTM phải đảm bảo tính khả thi, phù hợp với điều kiện kinh tế từng vùng miền, từng địa phương, khi xây dựng cần có sự sắp xếp ưu tiên theo thứ tự một cách hợp lý, phù hợp với thực tế của các địa phương theo mức độ quan trọng và nguồn lực thực hiện”, đại biểu Nguyễn Thu Anh (Lâm Đồng) đề nghị.

    Đại biểu Nguyễn Bắc Việt (Ninh Thuận) nhấn mạnh, cần sớm ban hành chính sách lương, chế độ đối với cán bộ cấp cơ sở nhằm tạo điều kiện động viên cán bộ cấp cơ sở xã, phường, vùng sâu, vùng xa thì họ mới thực sự yên tâm lo nhiệm vụ cho phát triển nông thôn mới.

    Còn đại biểu Nguyễn Văn Sơn (Hà Tĩnh) lại cho rằng, XDNTM thành công là phải chọn sản phẩm chủ lực, mô hình kinh tế cụ thể.

    Kiến nghị về sửa đổi tiêu chí XDNTM, đại biểu Trần Văn Tấn (Tiền Giang) cho rằng: Một, tiêu chí về cơ cấu lao động quy định trên địa bàn xã nông thôn mới chỉ có 35% lao động nông nghiệp, còn lại là lao động phi nông nghiệp là chưa hợp lý đối với điều kiện và đặc thù ở các xã thuần nông khu vực đồng bằng sông Cửu Long; Hai, tiêu chí về thu nhập, quy định thu nhập bình quân đầu người của xã nông thôn mới phải đạt 1,3 bình quân đầu người ở khu vực nông thôn là không khả thi, vì tiêu chí đặt ra chưa căn cứ vào thực tế đời sống thu nhập của người dân hiện còn rất khó khăn. Do vậy cần phải thực hiện việc điều tra, khảo sát thực tế về đời sống của người dân ở khắp các vùng nông thôn để nghiên cứu và đưa ra tiêu chí thu nhập cho phù hợp, đảm bảo việc thực hiện có hiệu quả và bền vững. Ba, các tiêu chí khác như môi trường, chợ, nông thôn, sân vận động, nghĩa trang cần để cho các địa phương tự quy định. Do một số nơi chợ và nghĩa trang thường được đầu tư xây dựng và sử dụng liên xã do đặc thù về nét văn hóa của từng địa phương khác nhau.

    D.Thanh

Ý kiến bạn đọc