Cần tổ chức chăn nuôi theo quy mô trang trại

Thứ sáu, ngày 4 tháng 8 năm 2017 | 14:10

KTNT - Đó là một trong những giải pháp được các chuyên gia khuyến cáo nông dân các tỉnh Tây Nguyên và Nam Trung Bộ thực hiện để phát triển chăn nuôi bền vững tại Diễn đàn Khuyến nông @ nông nghiệp chủ đề: Phát triển chăn nuôi thích ứng với biến đổi khí hậu vừa được tổ chức tại Đắk Lắk và Phú Yên.

Một góc trang trại bò sữa Organic của Vinamilk tại Lâm Đồng.

Cần tổ chức chăn nuôi theo quy mô trang trại

Đó là một trong những giải pháp được các chuyên gia khuyến cáo nông dân các tỉnh Tây Nguyên và Nam Trung Bộ thực hiện để phát triển chăn nuôi bền vững tại Diễn đàn Khuyến nông @ nông nghiệp chủ đề: Phát triển chăn nuôi thích ứng với biến đổi khí hậu vừa được tổ chức tại Đắk Lắk và Phú Yên.

Chăn nuôi trang trại phát triển mạnh

Theo Cục Chăn nuôi, hiện tốc độ phát triển của ngành chăn nuôi ở Việt Nam tương đối tốt, tính đến tháng 1/10/2016, cả nước có tổng đàn bò 5,5 triệu con, trong đó bò sữa 282.900 con; đàn lợn 29,1 triệu con; đàn gia cầm 361,7 triệu con.

Tây Nguyên là vùng có lợi thế phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ bởi có tài nguyên đất, rừng đa dạng, phong phú; diện tích đồng cỏ tự nhiên và đồng cỏ dưới tán rừng khá lớn; có nhiều phụ phẩm trồng trọt phục vụ chăn nuôi như mía, ngô, lúa...

Với những lợi thế đó, những năm gần đây, ngành chăn nuôi của vùng Tây Nguyên có bước phát triển khá mạnh. Trong 6 tháng đầu năm 2017, tốc độ tăng trưởng bình quân của 5 tỉnh Tây Nguyên đạt hơn 7,8%; giá trị tổng sản phẩm đạt gần 62.000 tỷ đồng, trong đó nông lâm, thủy sản tăng 4,56%. Chăn nuôi trang trại khá phát triển, toàn vùng hiện có 1.100 trang trại chăn nuôi, chiếm 5,6% tổng số trang trại chăn nuôi trong cả nước. So với năm 2012, số trang trại chăn nuôi tại khu vực này tăng 48,9%. Bước đầu đã có một số mô hình trang trại chăn nuôi bò thịt, bò sữa tập trung quy mô lớn, áp dụng công nghệ tiên tiến của tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai, Vinamilk... Điều đó cho thấy đã có sự chuyển dịch phương thức chăn nuôi, từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán, tận dụng, năng suất thấp sang chăn nuôi tập trung, thâm canh theo  hướng công nghiệp và bán công nghiệp, có đầu tư cao về giống, công nghệ.

Tuy nhiên, ngành chăn nuôi Tây Nguyên vẫn phải đối mặt với rất nhiều thách thức để phát triển thiếu bền vững. Phần lớn đồng bào dân tộc, các hộ nghèo vẫn nuôi nhỏ lẻ, chăn thả tự nhiên, quảng canh, năng suất thấp, thường xuyên phải đối mặt với rủi ro về thời tiết, dịch bệnh. Trình độ nhận thức về khoa học kỹ thuật còn hạn chế, mạng lưới sản xuất và cung ứng con giống, thức ăn và các dịch vụ thú y, khuyến nông tại chỗ chưa phát triển, trong khi cơ sở giao thông ở các vùng sâu, vùng xa còn rất khó khăn, chi phí vận chuyển giống, vật tư đầu vào còn cao...

Vùng Tây Nguyên có dải biên giới trên bộ tiếp giáp với hai nước Lào và Campuchia khá dài, việc kiểm soát vận chuyển động vật qua biên giới rất khó khăn, đã phát sinh dịch bệnh nguy hiểm như lở mồn long móng, H5N1…

Trong khi đó, với điều kiện địa lý phức tạp, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ là một trong những nơi chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ thiên tai. Đặc biệt, những năm gần đây, thời tiết diễn biến thất thường, những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với ngành chăn nuôi ngày một rõ nét. Vào mùa khô, tình trạng thiếu thức ăn xảy ra phổ biến hơn, mùa mưa lũ thì vật nuôi bị nước lũ cuốn trôi; lượng thức ăn cho gia súc, gia cầm ngày một giảm. Thời tiết thất thường còn làm cho vật nuôi thích nghi kém dẫn đến dịch bệnh phát sinh nhiều hơn.

Trước tình hình đó các địa phương trong vùng đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ, khuyến khích người chăn nuôi và đã có những kết quả nhất định như: Người nuôi bò chuyển từ chăn nuôi quảng canh sang thâm canh, mô hình trang trại heo được phát triển mạnh, chăn nuôi gia cầm chuyển dần sang quy mô chăn nuôi trang trại ứng dụng biện pháp sinh học…

Phát triển đối tượng vật nuôi phù hợp

Theo TS.Trần Văn Khởi, quyền Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, để phát triển chăn nuôi bền vững, các tỉnh Tây Nguyên cần chú ý một số giải pháp sau:

Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, phương thức tổ chức mới vào sản xuất; phát triển những đối tượng vật nuôi phù hợp với điều kiện của địa phương để khai thác tốt nhất thế mạnh của vùng, hạn chế khó khăn, nhất là khó khăn do biến đổi khí hậu gây ra. Phát triển chăn nuôi gắn với sản xuất trồng trọt để cung cấp thức ăn thô xanh, tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp, chế biến thức ăn tinh quy mô hộ và nhóm hộ. Phát triển chăn nuôi trang trại, quy mô lớn, tổ chức cho các hộ chăn nuôi theo hướng thành lập hợp tác xã, câu lạc bộ, liên kết với doanh nghiệp để tạo được vùng nguyên liệu, thúc đẩy xây dựng chuỗi giá trị, thương hiệu sản phẩm của vùng, địa phương.

Các nhà quản lý cần xây dựng chính sách đặc thù cho vùng, đặc biệt hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp để giải quyết tiêu thụ sản phẩm cho nông dân. Có chính sách hỗ trợ để hình thành các tổ chức sản xuất của nông dân như câu lạc bộ, hợp tác xã, tổ hợp tác. Triển khai những chính sách đã ban hành như Nghị định 210/2013/ NĐ-CP về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, Nghị định 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn.

Tăng cường công tác tuyên truyền để cung cấp cho nông dân những kỹ thuật, công nghệ, phương thức tổ chức sản xuất mới, thông tin về thị trường, giá cả, an toàn thực phẩm, liên kết sản xuất… Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động khuyến nông thông qua xây dựng các mô hình trình diễn, tập huấn, truyền thông để nâng cao năng lực của người sản xuất. Đặc biệt, cần đổi mới công tác khuyến nông theo hướng tăng cường vai trò tư vấn cho nông dân trên nhiều mặt: kỹ thuật sản xuất, tổ chức quản lý sản xuất, thông tin thị trường, xúc tiến thương mại, liên kết sản xuất…

TS.Trần Văn Khởi cũng đề nghị trung tâm khuyến nông các tỉnh trong vùng cần đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động tư vấn cho nông dân, đặc biệt ở cấp huyện, cấp xã; cần đề xuất với ngành, địa phương những hoạt động chuyển giao thúc đẩy chăn nuôi của vùng như xây dựng mô hình trình diễn, mở lớp tập huấn, hội nghị, hội thảo đầu bờ, tham quan học tập; khuyến cáo bà con nông dân chọn lọc và áp dụng những giải pháp phù hợp với điều kiện sản xuất của gia đình, nhất là các giải pháp về kỹ thuật chăn nuôi.

TS.Nguyễn Văn Trọng, Phó cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và PTNT) cho rằng, để nâng cao hiệu quả và phát triển chăn nuôi bền vững, các tỉnh trong vùng Duyên hải Nam Trung Bộ cần có các giải pháp như sau:

Quy hoạch vùng chăn nuôi và định hướng phát triển. Quy hoạch vùng chăn nuôi gia súc nhai lại gắn với trồng cây thức ăn thô xanh, chuyển đổi diện tích đất trồng lúa, đất nông nghiệp kém hiệu quả sang trồng cỏ, cây thức ăn chăn nuôi, tận dụng nguồn phụ phẩm công, nông nghiệp chế biến thành thức ăn chăn nuôi. Từng tỉnh rà soát, điều chỉnh lại quy hoạch phát triển chăn nuôi, lựa chọn đối tượng vật nuôi phù hợp thích ứng với biến đổi khí hậu và phát huy lợi thế từng vùng; xác định cơ cấu vật nuôi phù hợp, trước hết, tập trung cho các sản phẩm có lợi thế: bò thịt, bò sữa, trâu...

Đối với nhóm giải pháp về kỹ thuật: Tăng cường lợi thế vùng, địa phương cần có hướng dẫn xây dựng chỉ dẫn địa lý cho một số giống bản địa có lợi thế vùng. Giới thiệu các tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống phù hợp và có hiệu quả cho các vùng hạn hán và xâm nhập mặn, trồng và chế biến thức ăn, xử lý chất thải…

Trồng cỏ và cây thức ăn thô xanh chịu được hạn hán, chủ động chọn tạo, nhân thuần, nhập nội một số giống cỏ có khả năng chịu hạn để chủ động nguồn thức ăn cho gia súc nhai lại. Trước mắt tập trung vào một số giống cỏ có khả năng chịu hạn như VA06, Mulano II, Ghine Monbasa, Ruzi, Stylo, Guatemala... Nhập khẩu một số giống cỏ chịu mặn tốt từ Úc về Việt Nam để khảo nghiệm như Tall Wheat Grass, Puccinellia, Mediterranean Saltbush…

Thường xuyên kiểm tra, gia cố, vệ sinh chuồng trại. Sau mỗi đợt thiên tai (lũ lụt, ngập úng) phải thực hiện tiêu độc, khử trùng xong mới được tái đàn, nhất là đối với chăn nuôi lợn, gia cầm.

Đào tạo nâng cao nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác chăn nuôi, thú y, dẫn tinh viên thụ tinh nhân tạo trâu, bò; tập huấn kỹ thuật chăn nuôi cho các hộ, cơ sở chăn nuôi.

Tổ chức liên kết sản xuất, trọng tâm là xây dựng mối liên kết hợp tác giữa các doanh nghiệp cung ứng đầu vào (giống, thức ăn, thú y,…) và doanh nghiệp đầu ra (chế biến, tiêu thụ sản phẩm) trong và ngoài vùng chăn nuôi.

Khánh Nguyên

 

 

  

Ý kiến bạn đọc

Mã xác nhận
Liên kết hữu ích